Ngôi miếu bí ẩn và câu chuyện của những người phương xa đến Sài Gòn
Một chứng tích may mắn còn được giữ lại trên phần đất từng là nghĩa trang của một cộng đồng cũ, những người trên hành trình ra đi lập nghiệp, tìm kiếm cơ hội mới ở miền đất xa.

Ngôi miếu nằm giữa vùng đất trống trải mênh mông, nhưng bị che khuất bởi cây xăng, showroom và các tòa nhà cao tầng trên đường Phổ Quang. Vì vậy hầu như ít người nhìn thấy nó khi ngang qua khu vực này. Dù sao, màu vàng sáng bừng cùng dáng vẻ cổ kính vẫn có chút nổi bật giữa những ngổn ngang.


Nếu vô tình nhìn kiến trúc cũ kỹ xa xa kia, hẳn bạn sẽ ngạc nhiên khi trên khu vực nay là trạm xe điện hiện đại, lại tồn tại ngôi miếu này, góc bên trong thậm chí còn sót vài bia mộ. Câu chuyện bắt đầu từ...
Hành trình di cư và Hội Bắc Việt Tương Tế
Vào những năm 1920, với sự phát triển mạnh mẽ của các đồn điền cao su ở phương Nam cũng như ưu đãi đặc biệt người Pháp dành cho ngành này, rất nhiều người từ phía Bắc đã di cư vào Nam tìm cơ hội. Người trước rủ người sau, dần dần số lượng cứ thế tăng vọt. Theo thống kê của Pháp, đến khoảng năm 1925 đã lên tới vài chục ngàn cư dân so với trước kia theo cách nói vui của chính người họ: "Đi nửa ngày trời mới gặp được một người Bắc".

Không chỉ vậy, người Bắc còn kiếm tìm cơ hội giao thương, buôn bán. Chính vì thế vào năm 1924 ở Sài Gòn, Hội Bắc Việt Tương Tế ra đời. Tổ chức được thành lập nhằm giúp đỡ các thành viên đứng vững trước sự cạnh tranh của thương nhân Hoa kiều, Ấn Độ, đồng thời chở che, hỗ trợ đồng hương xa xứ. Sau này, Hội Bắc Việt Tương Tế ngày càng phát triển, họ có riêng mảnh đất làm nghĩa trang cộng đồng mà về sau người ta quen gọi là "nghĩa trang Bắc Việt".
Nghĩa trang Bắc Việt
Một phần đất để an nghỉ, để nằm xuống cạnh người cùng quê, để có người tưởng nhớ hay lo chuyện hương khói, đối với ai cũng quan trọng. Nhưng không phải người di cư nào vào cũng có ngay đất đai, nhà cửa. Vì vậy, nghĩa trang Bắc Việt rất ý nghĩa đối với cộng đồng mới mẻ này.
Không chỉ là nơi của người đã khuất, trong tập tùy bút "Thương nhớ mười hai", nhà văn Vũ Bằng còn thuật lại cái Tết "Bắc" nhất mà ông được dự khi vô tình lạc đến khu vực này. Những năm 1960, quanh chùa Phổ Quang, khung cảnh lễ hội náo nhiệt đi đâu cũng gặp đồng hương, ai nấy đều rưng rưng. Lễ chùa, khấn vái, xin xăm, xin quẻ... xong người ta lại dắt nhau ra sân chơi đủ trò giải trí miền Bắc như cờ bỏi, cờ tướng… Rồi chỗ thì tụm lại hút thuốc lào, dưới bóng cây xung quanh la liệt những nấm mồ. Xa xa mọi người thắp nhang bên phần mộ tổ tiên, thậm chí có gia đình viếng mộ xong vẫn nấn ná không về, chồng ngồi bên mộ đọc sách, vợ giở giỏ ra đan, con nhỏ lăng xăng đuổi bướm.
Nghĩa trang được chụp vào năm 1969, bạn có thể thấy ngọn tháp phía xa là của Chùa Phổ Quang lúc này vẫn giữ kiến trúc cũ. | Ảnh: George LaneNhìn chung, ở chừng mực nào đó, khu đất này có thể xem là một phần thu nhỏ của quê hương những người gốc Bắc xa xứ trong hơn nửa thế kỷ.
Sau nhiều biến động và thay đổi, vào những năm 1980 toàn bộ nghĩa trang được di dời. Tuy vậy, một ngôi miếu nhỏ trên nền đất cũ vẫn may mắn được gìn giữ dù ngày nay, không còn dấu vết nào về một nghĩa trang của cộng đồng Bắc đầu tiên nữa.
Vẻ đẹp còn sót lại
Ngôi miếu được xây theo lối vọng lâu, cấu trúc chia làm hai tầng. Ba hán tự "Linh Thần Miếu" đắp nổi ở cả bốn hướng, mái lợp ngói âm dương, góc mái uốn cong hòa quyện với những nhánh bồ đề vươn sát bên… Tất cả mang đến một cảm giác trang nghiêm, linh thiêng giữa khung cảnh tấp nập xung quanh.



Được xây dựng năm 1950, khá lâu sau khi nghĩa trang Bắc Việt hình thành, đây là công trình phụ nổi bật của khu đất. Dù vậy đến hôm nay, nó giống như dấu tích của một thời đã qua, lẻ loi trầm lặng chứng kiến biết bao đổi thay giữa mênh mông xa lạ.


Bên trong hiện vẫn còn ba tấm bia cùng vài hũ sành đựng tro cốt mà khi di dời nghĩa trang, không ai đến nhận nên người ta cứ giữ lại cho tới tận hôm nay. Tuy nằm trơ trọi giữa trạm xe điện, nhưng không vì thế mà nơi đây bị lãng quên. Hàng ngày giữa trưa nắng gắt, vẫn có nhiều người ghé vào tá túc cũng như sẵn lòng thắp nén nhang. Bác bảo vệ ở đây cũng thường xuyên quét dọn, chăm nom cả ngôi miếu lẫn những bình tro cốt bơ vơ.


Giờ đây giữa vùng đất đã thuộc về người sống, ngôi miếu nép mình lặng lẽ bên cây bồ đề, trầm ngâm về câu chuyện đã qua. Khi những tia nắng chiếu nghiêng nghiêng xuyên qua tán lá rọi xuống bức tường vàng, bạn sẽ bắt gặp một vẻ đẹp chất chứa thời gian. Đi qua bao mùa nắng mưa, mái nhà nhỏ này vẫn lặng thầm làm nhiệm vụ cuối, chở che những phần tro cốt cuối cùng còn ở lại.

Bài viết có tham khảo tài liệu của:
- Annuaire statistique de l’Indochine
- Between War and the State: Civil Society in South Vietnam, 1954-1975
- Hiệp Hội Tương Tế Bắc Việt Nghĩa Trang - Trần Vũ
- Thương nhớ mười hai - Vũ Bằng

























